TÌM HIỂU VỀ 3 TẠNG TỲ – PHẾ – THẬN

Hen Truất phế Quản theo đông y thuộc chứng Háo Suyễn - Háo Rỗng, tức là khí ko được liễm nạp về thận, tỳ dương hư yếu thủy thấp ứ đọng sinh ra đờm. Trong cổ họng phát ra tiếng gọi là háo (hen) thở hít gấp gáp, khí đưa lên nhiều mà đưa xuống ít gọi là (suyễn).

Bàn về nguyên nhân, cơ chế sinh bệnh hen phế truất quản, Tuệ Tĩnh trong cuốn Hồng nghĩa giác tư y thư viết: “Phần do phế truất hư gặp lạnh, hoặc phế truất thực mà gặp lạnh hoặc bị thủy khí, hoặc do sợ, khí uất lồng lên, hoặc âm hư hoặc khí hư, hoặc đờm tắc – tương đối thở gấp. Tỳ vị hư mà hỏa xông lên…”

Lúc đã thành bênh, yếu tố bên trong là ba tạng Tỳ - Truất phế - Thận, yếu tố bên ngoài là gió lạnh, ẩm, yếu tố tâm thể và nhọc mệt và dễ phát cơn hen phế truất quản. Muốn chẩn đoán và điều trị tốt cần nắm chắc chắc chức năng sinh lý của ba tạng này.

1. Tìm hiểu chức năng tạng Tỳ

Tỳ thuộc hành Thổ, công năng chủ yếu là vận hóa.

-          Quan niệm của những y gia xưa cho rằng tiêu hóa, hấp thụ và quá trình vận chuyển tân dịch là do sự phối hợp giữa tỳ và vị. Tiêu hóa là công năng của vị, vận chuyển những chất, hấp thụ được lại nhờ vào tỳ. Tỳ là tạng vận hành phấn tán tân dịch cho vị, phải thông qua kich mạch. Vị là kho chứa để cấp dưỡng cho lục phủ ngũ tạng. Kinh túc thái âm tỳ thông với vị. Tân dịch trong vị do hấp thụ thông qua kinh mạch mà vận chuyển vào âm kinh. Tân dịch cũng thông qua kinh túc dương minh vị mà phân bổ ra những kinh dương. Nhờ sự luân chuyển tân dịch, những phòng ban trong thân thể mới được nuôi dưỡng.

Tóm lại: Tỳ vận hóa tinh vi trong đồ ăn. Tỳ với tính thấp chủ việc đưa lên, vị với tính táo chủ yếu đưa xuống. Táo và thấp cùng phối hợp nhau trong tiêu hóa của tỳ vị. Tỳ tuy tính thấp nhưng lại vận hóa thủy thấp (khí thủy thấp), nhờ vận hóa của tỳ thủy thấp mới bài xuất đúng mực ko ứ đọng, tỳ hư vô chuyển vận được mạch làm cho thủy thấp ngưng đọng, sinh đàm ẩm, phù thũng. Thủy thấp trở ngại hoạt động của tỳ. “Thấp hại tỳ” “Tỳ chủ thấp, ghét thấp”.

-          Tỳ chủ cơ nhục, thủ công, vinh nhuận ra ô môi.

-          Thức ăn được tiêu hóa sẽ cung ứng dinh dưỡng cho cơ bắp. Cơ được nuôi dưỡng đủ thì chắc. Kinh mạch của tỳ vị vòng quanh môi mồm để chẩn đoán bệnh tỳ vị.

-          Tỳ thống huyết: tỳ quan hệ chặt chẽ với huyết. Huyết là sinh khí của thức ăn – bắt nguồn từ trung tiêu. “Tỳ là nguồn sinh huyết”. “Tâm tạng chủ về huyết”.

-          Tỳ sinh huyết và thống nhiếp huyết, tức thị đảm bảo máu chảy trong mạch, nếu tỳ khí hư yếu dễ làm huyết dịch chảy ra ngoài (liên quan tới máu đông và chảy máu)

2. Tìm hiểu chức năng tạng Truất phế

Truất phế thuộc hành kim, phế truất chủ khí – khí là vật chất trọng yếu.

-          Thân thể nhờ khí mà duy trì sự sống. Khí với hai nguồn là khí của thức ăn và khí của trời thở hít vào. Khí trời do phế truất hút vào. Khí của thức ăn do mạch tỳ vận chuyển lên. Hai khí đó kết hợp chứa vào khí hải ở lồng ngực, văn cổ gọi là tông khí. Tông khí là nguồn gốc của khí trong toàn thân, ra họng để làm hô hấp dồn vào tâm mạch phân bố toàn thân cho nên nói phế truất chủ khí là nói toàn bộ khí của thân thể, trên dưới, trong ngoài.

-          Truất phế trợ tâm, chủ trị tiết: quản lý ko rối loạn gọi là “trị tiết”. Nói phế truất hoạt động với quy luật. Những cơ quan hoạt động với quy luật, ví dụ “Tâm chủ thần minh” là cũng nhờ ở phế truất, “phế truất giữa chức năng tướng phó, vị trị tiết từ đó mà ra”. Tâm chủ huyết – phế truất chủ khí thân thể nhờ sự tuần hoàn của khí huyết để vận chuyển chất dinh dưỡng duy trì hoạt động và sự hoạt động nhịp nhàng của những cơ quan. Nhờ tính thoải mái của khí mới vận hành thường ngày. Khí toàn thân do phế truất làm chủ cần nhờ sự vận tải của huyết quản mới thông đạt khắp toàn thân. Khí với huyết tác thành nhau, quan hệ chặt chẽ với nhau. “Khí là thống soái của huyết, huyết là thứ phối hợp với khí, lúc lưu hành thì huyết lưu, hành, chỗ nào huyết tới thì khí cũng tới”.

-          Truất phế chủ túc giáng thông điều thủy đạo. Nước vào vị qua sự vận chuyển của tỳ mà dồn lên phế truất. Truất phế khí túc giáng thì thủy dịch theo thủy của tam tiêu mà xuống bóng đái.

-          Truất phế khí kém túc giáng thì sự lưu thông thủy dịch trở ngại, thủy dịch dồn dọng lại, ko thông thành thủy thũng.

-          Truất phế là nguồn trên của nước. Truất phế chủ suy bì mao. Truất phế chủ khí, hô hấp là cơ quan chính trao đổi ngoài lỗ chân lông cũng với tác dụng tán khí, lỗ chân lông được gọi là “khí môn” (cửa khí).

-          Da lông nhờ phế truất khí sưởi nóng mới tươi nhuận, phế truất khí đủ, da lông mỡ màng. Khí phế truất suy kiệt, da lông khô. Tà khí ban sơ tác động vào da lông sau truyền vào phế truất, phế truất hư thì da lông cũng hư yếu, dễ ra mồ hôi, dễ cảm nhiễm ngoại tà.

3. Tìm hiểu chức năng tạng Thận

Thận thuộc hành Thủy.

-          Thân tàng tinh – vật chất cơ bản của hoạt động sống là tinh. Tinh bao gồm tinh của nam nữ trong giao hợp là nguồn gốc của sinh tồn và tinh do thức ăn sinh ra giúp thân thể sinh tồn, phát triển. Tinh của nam nữ là tinh của tiên nhiên, tinh của thức ăn là tinh hậu nhiên. Cả hai loại tinh cùng tàng chứa ở thận.

-          Tinh tiên nhiên do cha mẹ truyền, với từ lúc thành bào thai tới lúc chết, tinh luôn sinh trưởng hóa dục  - tinh tiên nhiên cần dinh dưỡng của tinh hậu nhiên – hai thứ tác động qua lại. Tiên nhiên là cơ bản.

-          Tàng tinh là công năng quan yếu của thận; sinh trưởng; phát dục, sinh nở đều nhờ tác dụng của thận tinh – còn gọi là thận khí.

-          Thận chủ cốt tủy – tinh hoa thể hiện ở tóc. Thận tàng tinh – tinh sinh tủy – tủy nuôi dưỡng xương. Nếu thận yếu, sẽ sinh tủy kém – tủy kém sẽ sinh xương kém mà sinh chứng cốt tý (đau xương) biểu hiện ở người lạnh, sợ lạnh, khớp xương co cứng. Nếu nhiệt lưu ở thận, thủy dịch bị đốt nóng mà thành khô xương dần dần thành cốt nuy, yếu liệt vô lực. Não là bể chứa tủy nên não và thận với quan hệ thông nhau. Tinh khí chứa ở thận thịnh hay suy tác động tới công năng của não.

-          Thận chủ thủy – nước uống vào, tỳ vị chưng bốc lên phế truất, phế truất khí túc giáng làm cho thủy dịch chảy xuống mà dồn về thận. Thủy dịch do tỳ thổ chưng bốc, với thanh với trọc. Thanh đi lên trọc đi xuống. Trong thanh với trọc, trong trọc với thanh, thứ thanh trong thanh thì từ phế truất mà ra khắp da lông. Thức trọc trong thanh thì theo tam tiêu mà xuống thận. Nước lên phế truất thành thứ thanh. Thủy dịch dồn về thận làm trọc. Thứ rọc trong trọc theo đường bóng đái mà thải ra ngoài. Thứ thanh trong trọc thì chứa lại ở thận. Tinh lực chứa ở thận, nhờ thận dương chưng nóng hóa thành khí mà lên phế truất. Từ phế truất giáng xuống mà tới thận. Tuần hoàn tương tự để duy trì sự thay đổi cũ mới của nước trong thân thể. Thận dương kém thì sự đổi cũ thay mới sẽ trở ngại với thể sinh phù thũng.