Sản phẩm số 1 về tăng cường miễn dịch thai kỳ cho mẹ bầu

Giới thiệu món Phở Việt Nam và công thức nấu Phở gia truyền Nam Định

Quick Summary

  • Phở là một món ăn truyền thống của Việt Nam và được xem là một trong những món ăn tiêu biểu cho nền ẩm thực Việt Nam.
  • Tại các tỉnh phía Nam Việt Nam và một số vùng miền khác, phở được bày kèm với đĩa rau thơm như hành, giá và những lá cây rau mùi, rau húng, trong đó ngò gai là loại lá đặc trưng của phở.
  • Phở thường là phở bò hay phở gà, nhưng đôi khi cũng có những biến thể khác, đặc biệt là phở sốt vang, phở khô, phở xào, phở chua, phở vịt ở Cao Bằng, và phở thịt quay ở các tỉnh miền núi phía Bắc.

Phở, món ăn quốc dân của Việt Nam, đã trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới và được mọi người ưa thích. Từng miếng thịt mềm mại, nước dùng đậm đà và hương vị phong phú của gia vị đã làm say đắm biết bao thực khách. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về món Phở Việt Nam và công thức nấu Phở gia truyền Nam Định.

Giới thiệu món Phở Việt Nam và công thức nấu Phở gia truyền Nam Định

1. Lịch sử và ý nghĩa của món Phở

Theo Wikipedia: Phở là một món ăn truyền thống của Việt Nam và được xem là một trong những món ăn tiêu biểu cho nền ẩm thực Việt Nam.

Thành phần chính của phở là bánh phở và nước dùng cùng với thịt bò hoặc thịt gà cắt lát mỏng. Thịt bò thích hợp nhất để nấu phở là thịt, xương từ các giống bò ta (bò nội, bò vàng). Ngoài ra còn kèm theo các gia vị như: tương, tiêu, chanh, nước mắm, ớt, vân vân. Những gia vị này được thêm vào tùy theo khẩu vị của người dùng. Phở thông thường được dùng để làm món điểm tâm buổi sáng hoặc lót dạ buổi đêm; nhưng ở các thành phố lớn, món ăn này có thể được thưởng thức cả ngày. Tại các tỉnh phía Nam Việt Nam và một số vùng miền khác, phở được bày kèm với đĩa rau thơm như hành, giá và những lá cây rau mùi, rau húng, trong đó ngò gai là loại lá đặc trưng của phở; tuy nhiên tại Hà Nội thông thường sẽ không có đĩa rau sống này. Phở thường là phở bò hay phở gà, nhưng đôi khi cũng có những biến thể khác, đặc biệt là phở sốt vang, phở khô, phở xào, phở chua, phở vịt ở Cao Bằng, và phở thịt quay ở các tỉnh miền núi phía Bắc.

Nước dùng cho nồi phở thường là nước dùng trong được ninh từ xương bò (hoặc xương lợn), kèm theo nhiều loại gia vị bao gồm quế, hồi, gừng nướng, thảo quả, sá sùng, đinh hương, hạt mùi, hành khô nướng. Thịt dùng cho món phở là thịt bò (với đủ loại thịt bắp, nạm, gầu được làm tái, hay chín hẳn) hoặc thịt gà (gà ta già luộc, xé thịt cho thịt ngọt đậm đà). “Bánh phở” theo truyền thống được làm từ bột gạo, tráng thành tấm mỏng rồi cắt thành sợi. Phở luôn được thưởng thức khi còn nóng hổi. Theo đó, để có một bát phở ngon và đậm vị, điều này còn phụ thuộc rất nhiều vào kĩ năng của người nấu, trong đó quan trọng nhất đó chính là nồi nước dùng.

Nguồn gốc của Phở

Phở như ngày nay được cho là đã ra đời và định hình vào những năm đầu thế kỷ 20. Hà Nội hay Nam Định là địa phương thường được cho là xuất xứ của phở. Ở Nam Định, phở có nguồn gốc từ làng Vân Cù (xã Đồng Sơn, Nam Trực), nổi tiếng với dòng họ Cồ đã mang nghề nấu phở gia truyền đi khắp mọi nơi sinh cơ lập nghiệp. Món phở được tin là bắt đầu phổ biến trong bối cảnh hình thành Nhà máy dệt Nam Định.[2] Phở cũng xuất hiện ở Hà Nội từ những năm đầu thế kỷ 20, đây cũng được biết đến là nơi đã làm cho món ăn này trở nên nổi tiếng. Tuy nhiên một số nhà văn, nhà thơ và nhà sử học đều nghiên cứu và thống nhất cho rằng phở xuất hiện đầu tiên tại Ô Quan Chưởng – Hà Nội bởi thời gian Pháp thuộc địa, Ô Quan Chưởng là nơi tập kết xương bò bỏ đi không dùng tới, người dân đã dùng để ninh và tạo nên món phở từ đó.

Có người nói rằng phở bắt nguồn từ một món ăn Quảng Đông mang tên “ngưu nhục phấn” (tiếng Trung: 牛肉粉; bính âm: ; Việt bính: ).[3]

Cũng có giả thuyết khác cho rằng, phở có nguồn gốc từ phương pháp chế biến món thịt bò hầm của Pháp (đọc như “pô tô phơ”) kết hợp với các loại gia vị và rau thơm trong ẩm thực Việt Nam.

Cũng có ý kiến cho rằng phở vốn bắt nguồn từ món “xáo trâu” (dùng sợi bún) của Việt Nam, sau được biến tấu thành món “xáo bò” dùng bánh cuốn.[4]

Tuổi khai sinh của phở không được sử liệu ghi nhận chính thức. Các cuốn tự điển Việt như của Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 không có từ “phở”. (1895), (1898) cũng vậy

P.Huard và M.Durand đã phân tích chữ phở tiếng Nôm gồm ba chữ Hán ghép lại: a/chữ mễ (lúa), b/chữ ngôn (lời nói), c/chữ phổ (phổ biến).

Từ phở hiểu nôm là món ăn chế biến từ lúa gạo phổ biến trong đại chúng và phát âm là “phổ”. Tiếng rao của các hàng quà rong vốn dĩ nghe rất du dương có vần, có điệu, đôi khi còn luyến láy như hát biến âm đủ thanh sắc rót vào tai người nghe

Nguyễn Công Hoan (1903-1977) ghi nhận: “1913… trọ số 8 hàng Hài… thỉnh thoảng tối được ăn phở (gánh phở rong). Mỗi bát 2 xu, có bát 3 xu, 5 xu”

Tiếng rao món phở âm Nôm: “phố đây, phố ơ! Danh từ phở được chính thức ấn hành lần đầu trong cuốn (1930) do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo: ““[5]

Năm 1939, phở gà xuất hiện, bởi khi ấy một tuần có hai ngày: thứ hai và thứ sáu không có thịt bò bán. Chưa rõ vì sao có sự cố này, song có lẽ một nguyên nhân khó thể bỏ qua đó là việc giết mổ trâu bò luôn bị hạn chế suốt thời phong kiến, do trâu bò vẫn là sức kéo chính cho nền nông nghiệp lúa nước Việt Nam. Bởi vậy, nhiều chủ quán phở bò đành phải đóng cửa vào hai ngày không có thịt bò trong tuần, tạo điều kiện cho phở gà phát triển. Từ sau năm 1939, hai món phở bò và phở gà đã chính thức ngự trị và song hành cùng nhau trong lòng ẩm thực Việt.[6]

2. Phở Nam Định – một hương vị đậm chất gia truyền

Phở Nam Định, một biến thể của Phở Bắc, nổi tiếng với đặc điểm là nước dùng trong, thịt và bánh phở mỏng. Sự kết hợp giữa các gia vị và nguyên liệu đã tạo nên hương vị đặc biệt của món ăn này. Dưới đây là công thức nấu Phở gia truyền Nam Định cho 6 người:

Nguyên liệu:

  • 1 kg bánh phở mỏng
  • 600g thịt bò (đùi hoặc thăn)
  • 500g xương bò
  • 1 củ hành tây lớn
  • 2 củ tỏi
  • 1 gừng lớn
  • 5 lít nước
  • 1/4 chén nước mắm
  • 2 thìa cà phê đường
  • 2 thìa cà phê muối
  • 1/2 chén dầu ăn
  • Hành lá, rau thơm (ngò gai, húng lủi, rau quế)
  • Gia vị: hạt tiêu, hành khô, ớt sừng, chanh

Cách nấu:

Bước 1: Sơ chế xương và thịt bò

  • Xương bò: Rửa sạch, luộc sơ qua nước sôi để loại bỏ bớt mùi hôi.
  • Thịt bò: Rửa sạch, thái thành miếng mỏng vừa ăn, ướp với 1 thìa cà phê đường, 1 thìa cà phê muối, 1/4 chén nước mắm, để khoảng 30 phút.

Bước 2: Nấu nước dùng

  • Hành tây, tỏi, gừng: Rửa sạch, nướng qua lửa cho thơm, bóc vỏ, bằm nhỏ.
  • Cho xương bò, hành tây, tỏi, gừng vào nồi nước, đun sôi trong 3 giờ, lấy bọt nổi ra ngoài. Sau khi nấu xong, lọc nước dùng, nêm lại vị với muối và đường theo khẩu vị.

Bước 3: Sơ chế bánh phở và rau thơm

  • Bánh phở: Rửa sạch, luộc qua nước sôi, rồi trụng lại bằng nước lạnh để giòn, để ráo nước.
  • Rau thơm, hành lá: Rửa sạch, thái nhỏ.

Bước 4: Xào thịt bò

  • Đun nóng dầu ăn trong chảo, cho thịt bò vào xào sơ, để thịt chín đều màu, không để quá lâu để thịt không bị khô.

Bước 5: Sắp xếp món ăn

  • Cho bánh phở vào tô, xếp thịt bò lên trên, rắc hành lá và rau thơm lên trên.
  • Rót nước dùng nóng vào tô, thêm hạt tiêu, hành khô, ớt sừng và chanh theo khẩu vị.

Món Phở gia truyền Nam Định đã hoàn thành, thơm ngon và hấp dẫn. Hãy cùng thưởng thức món ăn đậm chất Việt này và chia sẻ công thức với bạn bè, người thân để họ cũng có thể tự tay nấu món Phở ngon tại nhà.

3. Kết luận

Phở Việt Nam không chỉ là món ăn được nhiều người yêu thích bởi hương vị đặc trưng, mà còn là một phần di sản văn hóa của dân tộc. Phở gia truyền Nam Định, với đặc điểm nước dùng trong và thịt bò mỏng, đã góp phần làm phong phú thêm bản sắc ẩm thực Việt.

Hãy thử nấu Phở gia truyền Nam Định tại nhà và cảm nhận hương vị đậm đà, tinh tế của món ăn này. Chắc chắn bạn sẽ có những giây phút thưởng thức ngon miệng và đầm ấm bên gia đình, bạn bè.

suanoncolosence Company Inc

Website: https://suanoncolosence.com

Facebook: https://facebook.com/suanoncolosencecom

Twitter: @suanoncolosencecom

Copyright © 2024 | Design by Sữa non Colosence

×
×